Một nghiên cứu mới đây do Đại học Cornell công bố cho thấy tốc độ người khác phản ứng với lời nói bi bô của em bé là chìa khoá giúp chúng thụ đắc ngôn ngữ và các chuẩn mực xã hội - thể hiện qua tương tác giữa trẻ với xe điều khiển từ xa.

Ảnh: pixabay
Được biết Quỹ Khoa học Quốc gia và Viện Sức khoẻ Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia tại Mỹ đã ủng hộ nghiên cứu này.
Cho một chiếc xe điều khiển từ xa tiến lại gần và phát ra âm thanh mỗi khi trẻ bập bẹ nói, nhóm nghiên cứu phát hiện chỉ sau 10 phút, trẻ bắt đầu kỳ vọng xe sẽ có phản ứng với tiếng bập bẹ của mình. Nếu cho ngừng xe, trẻ sẽ hướng về phía chiếc xe và liên tục bập bẹ, với tần suất mãnh liệt hơn cả khi trẻ tương tác với người khác.
Nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn phát triển đầu đời, trẻ học cách chuyển hướng sự chú ý của mình theo “quy luật kế cận” - tức hướng tới người chăm sóc nào phản ứng nhanh nhất với hành vi của mình. Nhóm nghiên cứu giải thích trong năm đầu tiên, trẻ rất “mềm dẻo”, linh hoạt về những gì thụ đắc được theo quy luật kế cận, cả khi nguồn “dạy” trẻ là các loại máy móc không có đặc điểm nào giống người.
Theo Giáo sư tâm lý Michael Goldtstein, Giám đốc Phòng thí nghiệm phân tích hành vi những năm đầu đời (B.A.B.Y.), kết quả trên lật ngược quan điểm của một số nhà tâm lý học phát triển cho rằng trẻ sơ sinh, như nhiều động vật khác, sở hữu kho tri thức có sẵn, được mã hoá trong gen, như cơ chế nhận diện khuôn mặt chẳng hạn, và nhờ đó mới học hỏi được từ môi trường. Goldstein chính là tác giả đại diện bài báo khoa học “Quy luật kế cận là cơ sở hình thành kỳ vọng xã hội về chủ thể nhân tạo” đăng trên tạp chí Infancy.
Ông giải thích thêm: “Kết quả cho thấy điều trái ngược. Cơ chế được mã hoá trong gen trẻ là chú ý đến thời gian, và mọi chuyện còn lại dựa hẳn vào môi trường bên ngoài. Trẻ sơ sinh là những cái máy học và người lớn có nhiệm vụ phản ứng đúng cách để chúng có thể học hiệu quả nhất.”
Hơn 60 trẻ 7-8 tháng tuổi được mang vào khu nhà chơi lớn có xe điều khiển từ xa hoặc có một người lớn mà trẻ không hề quen biết (người giám hộ quen biết trẻ luôn quan sát trẻ trong suốt quá trình thử nghiệm). Đối với một số trẻ, xe hoặc người lạ phản ứng khi trẻ bi bô nhanh như tốc độ phản ứng của người quen. Xe điều khiển sẽ tiến lại gần trẻ, rồi phát ra nguyên âm từ loa gắn kèm; còn người lạ sẽ nhại lại tiếng bi bô rồi chạm vào vai trẻ và nở một nụ cười. Với một số trẻ khác, xe hoặc người lạ phản ứng ngẫu nhiên, không phụ thuộc vào lúc nào trẻ bi bô - đây là mô hình nghiên cứu nhóm chứng ghép cặp.
Sau 10 phút tương tác, xe hoặc người lạ sẽ ngừng mọi phản ứng trong vòng 2 phút. Hành vi này khiến trẻ ở mỗi nhóm bi bô nhiều hơn, và nhiều nhất là những trẻ chơi với xe điều khiển có khả năng phản ứng tức thì với lời bi bô của chúng. Goldstein giải thích: “Khi xe ngừng phản ứng, trẻ lập tức nắm lấy xe, di chuyển chúng, rồi bập bẹ liên hồi.”
Nhóm nghiên cứu cho rằng độ linh hoạt ở trẻ, vốn bộc phát từ khoảng 5 tháng tuổi, chính là lợi thế giúp trẻ thụ đắc cách học hỏi - song sẽ phai nhạt dần khi trẻ ngày càng thông thạo ngôn ngữ.
Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp quan trọng vào hiểu biết về cơ chế học hỏi nền tảng, vấn đề mà phòng thí nghiệm của Goldstein tập trung nghiên cứu, đặc biệt là ở những trẻ có nguy cơ tự kỷ, vốn kỳ vọng tốc độ phản ứng ở đối phương không đổi - khác với những trẻ phát triển điển hình, vốn ít kỳ vọng điều này.
Huỳnh Trọng Nhân
(Lược dịch)