Nhà linh trưởng học người Anh nổi tiếng qua nhiều công trình về loài tinh tinh - Jane Goodall - vừa qua đời hôm 01/10/2025, thọ 91 tuổi, theo thông cáo từ tổ chức mang tên bà.

Chân dung Jane Goodall vào năm 2017 -Ảnh: David Levene / eyevine
Kể từ khi đặt chân đến châu Phi vào năm 1960, bà đã hoà mình vào đời sống các quần thể tinh tinh tại đây, được chúng xem như đồng loại. Những phát hiện lý thú của bà không chỉ giúp công chúng hiểu hơn về loài vật có họ hàng gần gũi với con người này mà còn thay đổi cách nhìn của giới khoa học về chúng, khơi gợi nhiều thảo luận mới, thách thức những định kiến mà ta cứ ngỡ là sự thật hiển nhiên. Không chỉ tìm hiểu về tập tính tinh tinh, Goodall còn vận động bảo vệ môi trường sống cho chúng. Đó là bởi sau thời gian dài quan sát, bà nhận ra loài vật này giống loài người hơn ta vẫn tưởng.
Thuở nhỏ
Jane Goodall chào đời vào ngày 03/4/1934 tại London. Mẹ của bà là một nhà văn. Cha của bà là doanh nhân đam mê đua xe, từng phục vụ quân đội trong Thế chiến II. Cha mẹ bà ly hôn sau chiến tranh, nên phần lớn tuổi thơ mình, Goodall sống cùng bà ngoại, mẹ, dì, và cô em gái.
Từ khi còn bé, Jane Goodall đã vô cùng gần gũi với động vật, luôn thích thú muốn tìm hiểu cách chúng sinh hoạt. Lúc rảnh rỗi, bà thường quan sát chim chóc, muông thú, hí hoáy ghi chép, phác hoạ lại những gì thấy được rồi về nhà tìm đọc sách về động vật và tập tính học. Có lần thăm trang trại, bà lẻn vào chuồng gà nhẫn nại ngồi xem gà mái đẻ trứng. Mẹ của bà không thấy con đâu bèn đi tìm khắp nơi. Đến lúc gặp Jane ở chuồng gà, mẹ mới thở phào nhẹ nhõm và kể cô con gái nhỏ nghe gà mái đẻ trứng như thế nào.
Cũng từ lúc còn rất nhỏ, Jane Goodall đã ấp ủ giấc mơ được chung sống với thú vật nơi hoang dã, đặc biệt là ở châu Phi, rồi ghi chép về chúng. Trả lời phỏng vấn Terry Gross trên đài FM WHYY vào năm 1990, Goodall bộc bạch: “Tôi rất thích nhân vật Tarzan và vô cùng ghen tỵ với cô Jane trong câu chuyện đó. Cô ta tiểu thư quá, tôi mới là người phụ nữ phù hợp hơn với Tarzan. Và quả đúng là như vậy.”
Goodall còn tiết lộ mẹ của bà là người vô cùng ủng hộ giấc mơ của con gái: “Một số bà mẹ khác hẳn đã dập tắt trí tò mò khoa học của con rồi - nếu vậy thì tôi cũng không thể trở thành tôi của hôm nay được.” Bà nhớ lại hồi sau Thế chiến II: “Ai cũng cười nhạo tôi vì tôi chỉ là một cô gái có gia đình thiếu thốn mà còn phải trải qua thế chiến nữa. Nhưng mẹ đã luôn bảo tôi phải cố gắng hơn nữa, nắm bắt mọi cơ hội, và quan trọng nhất là không bao giờ bỏ cuộc.”
Vậy là sau khi nhận các bằng phổ thông vào năm 1950 và 1952, Goodall xin vào làm thư ký tại Đại học Oxford thay vì học lên đại học. Bà còn phụ việc cho một hãng phim tài liệu tại London. Mục tiêu cuối cùng của bà chỉ là gom góp đủ tiền để được sang châu Phi khám phá.
Đặt chân đến châu Phi
Theo lời ngỏ ý của bạn thuở nhỏ, Goodall đến South Kinangop, Kenya, vào cuối những năm 1950. Tại đây, bà gặp mặt nhà nhân học Louis Leakey nổi tiếng lúc này đang là giám tuyển cho Bảo tàng Coryndon ở Thủ đô Nairobi. Ông tuy miệt mài khai quật hoá thạch của một số loài có họ hàng xa với người nhưng cũng rất muốn quan sát xem loài linh trường bậc cao còn tồn tại ngày nay có liên hệ với con người như thế nào. Một trong số đó là loài tinh tinh.
Mới đầu, Jane Goodall chỉ là trợ tá của Leakey, giúp ông khai quật tại Hẻm núi Olduvai - địa điểm nổi tiếng với nhiều hoá thạch có họ hàng xa với loài người. Bà sau đó được cử đi nghiên cứu khỉ vervet sinh sống trên đảo nhỏ giữa Hồ Victoria. Dần dà, Goodall được Leakey tin tưởng giao cho nhiệm vụ nghiên cứu thực địa tinh tinh.
Goodall là một trong số ba nữ chuyên gia linh trưởng học từng theo Leakey học hỏi. Trong khi bà hướng đến quần thể tinh tinh, Dian Fossey nghiên cứu khỉ đột, còn Birutė Galdikas nghiên cứu đười ươi. Sau này, bộ ba được công chúng dí dỏm gọi là “những thiên thần của Leakey”, dựa theo loạt phim “Những thiên thần của Charlie” nổi tiếng vào những năm 1970.
Công việc Goodall phải làm thật ra vô cùng khó khăn. Các nghiên cứu trước đây thường thất bại do đoàn người tham gia quá lớn, làm tinh tinh sợ không dám tiếp xúc hoặc hành động thiếu tự nhiên. Với những nhà khoa học tiếp cận được quần thể tinh tinh, thời gian nghiên cứu lại quá ngắn, nên lượng tri thức thu thập được về đời sống loài vật này vẫn còn rất nông.
Lựa chọn của Leakey bị khá nhiều chuyên gia phản đối bởi Goodall khi ấy mới chỉ 26 tuổi mà lại không qua đào tạo chính quy, thậm chí chẳng có một tấm bằng đại học. Song, ông tin tưởng với tính kiên nhẫn, bà có thể quen dần cảnh sống cô lập trong một thời gian dài. Vậy là từ tháng 7/1960, Goodall được ông cử đi quan sát tinh tinh tại Khu bảo tồn Suối Gombe ở Tanzania. Dale Peterson, ngòi bút từng viết sách về bà, kể lại: “Chính quyền địa phương sở tại cho phép Goodall nghiên cứu nhưng không muốn để một người nữ trẻ tuổi phải sống một mình trong rừng.” Thế là bà gọi mẹ mình theo cùng. Bên cạnh cả hai còn có một đầu bếp.
Công cuộc nghiên cứu của Goodall khởi đầu không mấy thuận lợi. Bà và mẹ bị mắc chứng sốt rét. Khi Goodall tiếp xúc lần đầu với tinh tinh, con nào cũng trốn. Có vài con khi thấy bà cách xa khoảng 500 mét là đã ngoảnh mặt chạy đi. Bà từng nói đùa: “Bọn chúng chưa thấy một con linh trưởng da trắng bao giờ.”
Chuyển sang quan sát quần thể khác “hợp tác” hơn tại khu vực gần Thung lũng Kakombe, Goodall cũng thay đổi cách tiếp cận. Bà chậm rãi, âm thầm tiến lại gần chúng, đưa chuối cho chúng, tôn trọng vùng không gian riêng của chúng; mỗi ngày đều lặp đi lặp lại như vậy. Cứ thế, bầy tinh tinh quen dần với sự xuất hiện của bà, cho phép bà tiến lại ngày một gần hơn. Sau một năm, khoảng cách “an toàn” giữa bà và chúng thu ngắn lại chỉ còn 10 mét. Rồi một năm sau nữa, chúng không những mất đi vẻ e dè ban đầu mà còn chủ động tìm đến Goodall xin chuối.
Xây dựng lòng tin qua phương pháp “trao đổi chuối”, nhà linh trưởng học trẻ đã có thể thâm nhập sâu vào quần thể, ghi chép tường tận các hành vi, thói quen, tập quán của loài tinh tinh. Chẳng mấy chốc, bà làm quen được hầu như toàn bộ các cá thể tinh tinh tại khu bảo tồn, bắt chước hành vi của chúng, dành thời gian leo cây cùng chúng, chia sẻ đồ ăn cùng chúng.
Những phát hiện lý thú

Jane Goodall chơi đùa cùng cô tinh tinh 3 tuổi tại Vườn bảo tồn Sweetwaters gần Nanyuki, Kenya, năm 1997 - Ảnh: Jean-Marc Bouju / apnews
Chung sống với tinh tinh được vài tháng, bà bắt đầu đặt tên cho những con tinh tinh hay tương tác nhiều với mình. Đầu tiên là David Greaybeard dạn dĩ lớn tuổi (được bà âu yếm gọi là “chú tinh tinh yêu thích nhất của tôi”). Bà nhớ lại có lần theo David đi sâu vào rừng, bà chìa tay ra đưa hạt cọ cho nó. David cầm lấy hạt cọ nhưng để tuột mất. Rồi bất ngờ nó nhẹ nhàng nắm ngón tay bà. Bà nhận xét: “Đó là cách tinh tinh trấn an nhau. Vậy là vào khoảnh khắc đó, chúng tôi đã giao tiếp bằng thứ ngôn ngữ hoang dã, tồn tại trước cả khi con người cất lên tiếng nói đầu tiên.”

Goodall ngồi lắng nghe vũ công bản địa châu Úc Dianne McNaboe cùng con gái Beccy giải thích về ý nghĩa tranh vẽ của người dân bản địa vào năm 1997 - Ảnh: Megan Lewis / News.com
Lần khác, bà lại thấy David bẻ một nhành cỏ hay tuốt lá khỏi một nhánh cây rồi lấy đó thọc vào tổ mối, thế là được một bữa ngon lành. Hành động tự chế tạo công cụ rồi dùng chính công cụ làm “muỗng” đưa thức ăn vào miệng khiến Louis Leakey kinh ngạc. Goodall nhớ lại: “Leakey thốt lên: “Trước giờ ta nghĩ chỉ có con người mới sử dụng công cụ. Vậy là giờ ta phải định nghĩa lại “con người” với cả “công cụ”, không thì phải gộp tinh tinh vào cùng với con người mất.”” Trong phim tài liệu “Jane” công chiếu năm 2017, Goodall vẫn còn nhớ lại khoảnh khắc bất ngờ khi thấy David bắt mối bằng nhành cỏ: “Đó là hành vi cải biến vật thể, bước đầu tiên trong tiến trình tự tạo công cụ - chưa từng ai chứng kiến được nó trước đây.”
Chung sống lâu với tinh tinh, Goodall còn phát hiện được nhiều điều chưa từng được ghi nhận: tinh tinh có cấu trúc xã hội phức tạp, với các tập tính được nghi thức hoá và phương thức giao tiếp riêng biệt. Chúng biết vuốt ve, âu yếm nhau để phát triển tình cảm. Con đực tuy không tham gia nhiều vào chăm sóc, nuôi dạy con cái, nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tầng bậc của quần thể. Theo đó, mỗi đàn sẽ có con đực đứng đầu, bên dưới là các con cái rồi tới các con non hành động hết sức chừng mực bên cạnh con đực, tránh gây ra bất kỳ xung đột nào. Cấp bậc mỗi con đực thường được thể hiện qua vẻ bề thế của nó lúc xuất hiện tại các bữa ăn tập thể hay các cuộc họp mặt.
Một thiên kiến sai lầm khác là tinh tinh chỉ ăn thực vật, không ăn thịt. Thật ra Goodall là người đầu tiên ghi nhận tinh tinh biết làm công cụ và ăn động vật qua quan sát David Greybeard bắt mối. Chúng còn biết cách rình bắt, giết gọn các loại côn trùng to hơn, cũng như một số loài chim chóc và thậm chí là các con khỉ đầu chó hay linh dương non. Goodall không ngần ngại mà mô tả rất chi tiết những mặt tối của tinh tinh, từ việc lấy đá làm vũ khí, cho đến đánh đấm, giết hại lẫn nhau, rồi trong trường hợp cá biệt còn ăn thịt đồng loại nữa.
Giới khoa học không chỉ ngỡ ngàng trước những phát hiện trên mà còn với người đã công bố chúng. Không một ai nghĩ rằng cô gái trẻ chưa có bằng cấp đại học nào trong tay, lại còn đặt tên cho đối tượng nghiên cứu của mình là David Greybeard, Flo, Fifi, Merlin… thay vì gán số như thông lệ, rồi còn ghi nhận tính cách, cảm xúc của động vật nữa, thế mà có thể tìm ra được những điều mới lạ. Không những vậy, cô ta chui hẳn vào rừng sống chung với tinh tinh thay vì quan sát chúng từ xa.
Phương pháp điền dã này khiến cộng đồng tập tính học dậy sóng, nhiều người chỉ trích Goodall đã nghiên cứu sai cách. Nhưng bà vẫn vững tin vào những trải nghiệm của bản thân: “Những gì tôi thấy được tại Gombe sẽ khiến loài người hoài nghi về sự độc nhất của họ. Vậy là có nhiều người lên tiếng bác bỏ các ghi chép của tôi, viện lý do là tôi còn quá trẻ, không được đào tạo bài bản, nên nghiên cứu của tôi không có giá trị.”
Goodall còn kể: “Khi mới bắt đầu tìm hiểu về tinh tinh, không một ai nói tôi biết phương pháp nghiên cứu chuẩn chỉnh là như thế nào. Năm 1960, thế giới hầu như không biết gì về loài tinh tinh trong môi trường hoang dã.” Nhận định này được củng cố bởi Richard Wrangham, người từng thực hiện luận án tiến sĩ với Goodall và hiện là nhà nhân loại sinh học tại Đại học Harvard. Ông giải thích: “Cách người thời ấy nghĩ về tinh tinh rất máy móc. Chúng bị xem là những cỗ máy không biết suy nghĩ. Trong khi đó, Goodall lại đồng cảm với chúng, mô tả chính xác những gì cô ta quan sát được.”

Jane Goodall mang theo một chú tinh tinh nhỏ trong buổi họp mặt Hội Địa lý Quốc gia (NatGeo) năm 1962 - Ảnh: Jack Fletcher / NatGeo
Nỗ lực của Goodall cuối cùng đã được tưởng thưởng xứng đáng. Năm 1963, bài báo đầu tiên của bà được đăng trên tạp chí Hội Địa lý Quốc gia (National Geographic - NatGeo), tựa đề “My Life Among Wild Chimpanzees” (tạm dịch: “Khi tôi sống giữa bầy tinh tinh hoang dã”). Trước đó, Leakey đã giúp bà nhận được khoản trợ cấp từ NatGeo vào năm 1962 phục vụ cho công cuộc nghiên cứu. Nhà làm phim Baron Hugo van Lawick của NatGeo được cử đến Gombe quay lại hoạt động điền dã của Goodall. Lawick không lâu sau thành hôn với Goodall, trở thành người chồng đầu của bà.

Bức ảnh chụp khoảnh khắc Goodall cùng người chồng đầu - nhiếp ảnh gia kiêm nhà làm phim Hugo van Lawick - làm việc thực địa năm 1974. Cũng vào năm này, hai người quyết định ly dị - Ảnh: apnews
Công chúng thật sự nghe đến cái tên Jane Goodall lần đầu qua chương trình “Miss Goodall and the Wild Chimpanzees” (tạm dịch: “Quý cô Goodall và loài tinh tinh hoang dã”) phát sóng trên truyền hình Mỹ vào ngày 22/12/1965. Do chồng bà quay lại và được Orson Welles thuyết minh, chương trình đưa hình ảnh cô gái người Anh trẻ tuổi sống chung với tinh tinh trong môi trường tự nhiên của chúng đến với khán giả Anh và Mỹ, khiến bà và loài vật này trở thành hình tượng quen thuộc trong văn hoá đại chúng xứ sở sương mù lẫn xứ cờ hoa. Có thể nói, lúc ấy bà đã trở thành phiên bản người thật của nhân vật Jane trong câu chuyện Tarzan.

Chương trình truyền hình “Miss Goodall and the World of Chimpanzees” có cảnh bà tương tác với tinh tinh tại Khu bảo tồn Suối Gombe vào năm 1965 - Ảnh: Đài CBS
Năm 2017, những thước phim chưa được sử dụng trong chương trình 1965 đã được biên tập, ghép với nội dung đã công bố, thêm những lời giải thích từ chính Goodall lúc đó, làm thành phim tài liệu “Jane”, cho khán giả một cái nhìn toàn cảnh hơn về nghiên cứu của bà. Những thước phim như vậy thách thức giới khoa học về lằn ranh tưởng chừng cố hữu giữa nhân loại và các loài linh trưởng khác.
Jane Goodall được Đại học Cambridge trao bằng tiến sĩ tập tính học năm 1965, trở thành người thứ 8 trong số ít ỏi những người được ngôi trường danh giá này cấp bằng tiến sĩ mà chưa trải qua chương trình cử nhân. Goodall sau đó thỉnh giảng ngành thần kinh học tại Đại học Stanford từ 1970 đến 1975 rồi trở thành giáo sư thỉnh giảng danh dự tại Đại học Dar es Salaam ở Tanzania từ năm 1973.

Goodall đứng cạnh con trai 7 tuổi, mang tên Hugo, hồi năm 1974 - Ảnh: Getty Images
Trong năm 1965, Goodall cùng chồng lập ra Trung tâm Nghiên cứu Suối Gombe. Có thể nói, khoảng rừng nhỏ mang tên Gombe bên Hồ Tanganyika đã gắn liền với loài tinh tinh, trở thành nơi ghi lại chi tiết những sinh hoạt, tập tính thường ngày của chúng.
Vận động nâng cao ý thức về loài tinh tinh

Jane Goodall quan sát và ghi chép hành vi của tinh tinh tại Tanzania năm 2006. Được biết bà là người đầu tiên có thói quen đặt tên riêng cho những đối tượng mình nghiên cứu thay vì gán số - Ảnh: Michael Nichols / NatGeo
Bởi nhiệm vụ ban đầu khi đặt chân đến Gombe là tìm hiểu về họ hàng gần nhất của con người, xem hành vi của chúng “có giúp làm sáng tỏ tổ tiên con người” hay không, Jane Goodall từng nói: “Lúc nào tôi cũng ngạc nhiên về điểm giống nhau giữa chúng ta với loài tinh tinh, mà thật ra là với tất cả các loài động vật khác - chúng cũng sợ, cũng đau, cũng giận dữ,… như chúng ta mà thôi.”
Goodall chiêm nghiệm: “Tinh tinh nhìn và bắt chước… còn con người lại có thể thảo luận về quá khứ, dạy dỗ thế hệ sau bằng các câu chuyện kể. Tinh tinh chắc chắn có khả năng lên kế hoạch cho tương lai ngắn hạn - nhưng chúng ta có thể lên kế hoạch cho tới 10 năm về sau.” Theo bà, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ đồng nghĩa với việc con người cần phải có trách nhiệm hơn trong công cuộc bảo vệ môi trường chung: “Không phải kỳ lạ sao khi loài sinh vật thông minh nhất Trái Đất lại đang tự phá hoại ngôi nhà của chính mình? Tôi thấy dường như giữa trí thông minh và trái tim của chúng ta, nơi dành cho tình yêu và lòng trắc ẩn, có khoảng chênh rất lớn.”
Năm 1977, Jane Goodall thành lập Viện Jane Goodall nhằm thúc đẩy công tác bảo tồn tinh tinh và bảo vệ môi trường. Kể từ lúc ấy, bà ít tham gia vào nghiên cứu điền dã hơn mà chủ yếu nhờ các sinh viên và cộng sự.
Mọi chuyện thay đổi khi bà tham gia hội nghị của những nhà nghiên cứu tinh tinh tổ chức ở Chicago vào năm 1986. Tại đó, bà được kể nạn săn bắn trái phép và lấn chiếm môi trường tự nhiên ở châu Phi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh tinh như thế nào, rồi tinh tinh bị dùng cho các cuộc thí nghiệm ra sao. Thế là bà quyết tâm giáo dục công chúng về môi trường sống ngày càng bị đe doạ của tinh tinh cũng như vấn nạn loài này bị đối xử vô nhân đạo tại các phòng thí nghiệm trên toàn cầu.
Bà nhớ lại: “Thật không khỏi bàng hoàng khi hay tin ở châu Phi, nơi nào tinh tinh bị đem đi thí nghiệm, nơi đó rừng cây thưa thớt dần. Tôi nhận ra mình không thể mãi ích kỷ sống trong thiên đường nhỏ yên bình tại Anh mà phải dùng những gì mình biết để giúp đời, phải làm sao cho thế hệ sau là những nhà bảo tồn tốt hơn thế hệ của tôi hiện tại. Tôi phải lan toả thông điệp đó ra toàn thế giới. Tham gia hội nghị với tâm thế một nhà khoa học, cuối buổi tôi rời hội trường với nhiệt huyết của một nhà vận động xã hội.”
Nhằm đảm bảo môi trường sống tự nhiên của tinh tinh, Goodall khuyến khích các quốc gia châu Phi xây dựng kế hoạch phát triển du lịch thân thiện môi trường, đồng thời hợp tác với doanh nghiệp và chính quyền địa phương thực hiện các nghĩa vụ về bảo vệ môi sinh. Bên cạnh đó, bà còn kêu gọi giới khoa học nên tìm phương án khác thay vì tiến hành thử nghiệm trên động vật. Có lần bà nhận xét: “Nhìn chung, sinh viên ngày nay được dạy rằng không nên quá bận tâm với mấy câu hỏi đạo đức trước khi thực hiện các hành động không khác gì tra tấn động vật, miễn cứ nhân danh khoa học là được.”
Goodall cũng không cho rằng các hành vi bạo loạn của nhóm bảo vệ môi trường cực đoan là giải pháp hữu hiệu. Theo bà, lối suy nghĩ cực đoan từ cả hai phía khiến chúng ta ngày càng chia rẽ, đến mức chuyển sang đối đầu liên tục thay vì đối thoại tìm ra hướng đi.
Với vai trò nhà vận động xã hội, bà đi khắp nơi diễn thuyết nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và động vật hoang dã, đặc biệt là tinh tinh. Khi được hỏi giữa tinh tinh và người bà thích dành thời gian cùng loài nào hơn, bà từ tốn trả lời: “Chuyện đó còn tuỳ. Dù sao thì tinh tinh cũng giống chúng ta mà. Có một số con tinh tinh tôi yêu quý hơn người, nhưng cũng có một số người tôi yêu quý hơn tinh tinh.”

Goodall biểu diễn tiếng tinh tinh gọi nhau tại văn phòng thượng viện California năm 2011 - Ảnh: Rich Pedroncelli / apnews
Đến tận những năm cuối đời, Goodall vẫn tích cực gặp mặt các lãnh đạo thế giới thảo luận về biến đổi khí hậu, tham quan các dự án bảo tồn, và thúc đẩy tinh thần bảo vệ môi trường ở thế hệ trẻ. Chẳng hạn như khi Covid-19 khiến bà không thể đi khắp thế giới diễn thuyết, bà mở các phiên đàm thoại trực tuyến chia sẻ suy nghĩ về đại dịch: “Quan hệ quá gần gũi giữa người và các loài động vật bị đem ra bày bán trong các khu chợ hay bị bắt nhốt để mua vui cho chúng ta đã vô hình trung tạo nên tình huống virus lây lan kinh hoàng, khổ ải như hiện tại.”
Các ấn phẩm của Goodall
Những ghi chép điền dã của Goodall sau đó được biên tập thành nhiều bài báo và đầu sách khác nhau. Ấn phẩm đầu tiên “Shadow of Man” (tạm dịch: “Cái bóng của nhân loại”), xuất bản năm 1971, vừa là báo cáo điền dã về loài tinh tinh, lại vừa mang văn phong dễ tiếp cận với đại chúng. Những đoạn văn sống động khiến ta không khỏi liên tưởng đến thế giới động vật đầy kịch tính, có hài có bi. Song, việc bà gán những tính cách con người cũng như cách bà đặt tên những con tinh tinh mình quan sát bị nhiều nhà phê bình là hành vi thao túng cảm xúc độc giả.
Cuốn “The Chimpanzee Family Book” (tạm dịch: “Sách gối đầu giường về tinh tinh”) được viết với văn phong dành cho trẻ em, giúp các bạn trẻ có cái nhìn nhân văn hơn về thế giới tự nhiên hoang dã. Tác phẩm này sau đó được UNICEF trao giải Sách Trẻ em của Năm 1989. Với số tiền nhận được, Goodall cho dịch cuốn sách sang tiếng Pháp và Swahili để phân phối đến độc giả tại Tanzania, Uganda, và Burundi.
Trong cuốn “Through a Window” (tạm dịch: “Qua khung cửa sổ”) xuất bản năm 1990, Goodall bàn về vấn đề nuôi nhốt tinh tinh: “Càng biết nhiều về bản chất các loài động vật không phải người nhưng lại có bộ não và tập tính xã hội vô cùng phức tạp, ta càng vướng phải nhiều trăn trở đạo đức trong việc sử dụng chúng nhằm phục vụ con người - bất kể là vì mục đích giải trí, giữ làm “thú cưng”, xẻ thịt ăn, nhốt làm vật thí nghiệm, hay vì bất kỳ lý do nào khác. Càng đáng quan tâm hơn khi nhiều loài vật phải trải qua thương tổn về thể xác, tinh thần khi bị bắt ép phục vụ con người, như trường hợp bắt nhốt để thí nghiệm chẳng hạn.”
Nổi tiếng với các đầu sách hữu ích, khiến người đọc chiêm nghiệm sâu sắc là vậy, Goodall vẫn không tránh khỏi những sai lầm. Tháng 3/2013, trước khi cuốn “Seeds of Hope: Wisdom and Wonder from the Plants” (tạm dịch: “Hạt giống hy vọng: Tri thức và điều kỳ diệu từ cây cỏ”) viết chung với Gail Hudson lên kệ, Goodall bị cáo buộc đạo văn. Theo tờ The Washington Post, một số người đọc thử các trang sách đã được công bố thì phát hiện nhiều đoạn sao chép hoàn toàn từ Wikipedia hay các nguồn khác mà không có lấy một trích dẫn.
Cuốn sách sau đó bị hoãn ngày ra mắt để xử lý những phần bị cho là đạo văn. Khi nó chính thức đến tay độc giả vào năm 2014, Goodall đính kèm lời xin lỗi: “Đây là một quyển sách đúc kết thành quả nghiên cứu lâu dài, tỉ mỉ, và tôi thật sự rất bàng hoàng khi các nguồn tài liệu quý giá lại không được trích dẫn đúng cách. Tôi chân thành xin lỗi quý vị và các bạn.”
Viện Jane Goodall
Sau khi thành lập năm 1977, Viện Jane Goodall dồn nỗ lực bảo tồn động vật hoang dã, hợp tác chặt chẽ với Vườn Quốc gia Gombe cùng cộng đồng xung quanh vừa đảm bảo phát triển xã hội bền vững, vừa bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên quý báu. Năm 2017, Viện hợp tác với Google Earth, sử dụng hệ thống vệ tinh của tổ chức này nhằm theo dõi tình trạng các khu sinh quyển, đặc biệt là các quần thể tinh tinh sinh sống tại đó. Hiện tại, ngoài trụ sở chính ở Virginia, Mỹ, Viện còn có nhiều chi nhánh ở các quốc gia khác.
Di sản

Goodall cùng Tổng Bí thư Liên Hợp Quốc Kofi Annan và phu nhân Nane trồng cây tại Soweto, Nam Phi, trong một lần ghé thăm nước này năm 2002 - Ảnh: Pedro Ugarte / AFP
Trong khi ở rừng, tinh tinh chào đón Jane Goodall như người nhà, thì trên toàn thế giới, bà được những người khác chào đón bởi đã phát hiện tinh tinh giống con người hơn họ nghĩ. Bà đặt ra câu hỏi: “Tinh tinh cũng biết nắm tay, biết ôm, biết hôn, biết vỗ lưng nhau mà an ủi. Bọn chúng biết yêu thương, động lòng trắc ẩn, mà cũng biết bạo lực, cũng tham gia những dạng giao tranh sơ khai. Bởi tinh tinh quá giống con người, ta phải tự hỏi: “Điều gì khiến ta khác biệt, khiến ta độc nhất?””

Goodall gặp mặt Thủ tướng Canada Justin Trudeau tại văn phòng của ông ở Ottawa vào năm 2016 - Ảnh: Chris Wattie / News.com
Với những thành tựu độc đáo của mình, Goodall không những được vinh danh mà còn nhận nhiều giải thưởng xứng đáng. Có thể kể đến Huân chương Vàng về Bảo tồn từ Hội Động vật học San Francisco năm 1974, Giải thưởng Bảo tồn Động vật Hoang dã J. Paul Getty năm 1984, Huân chương Schweitzer từ Viện Phúc lợi Động vật năm 1987, Giải Kỷ niệm Trăm năm NatGeo năm 1988, và Giải thưởng Kyoto về Khoa học Cơ bản năm 1990. Bước sang thiên niên kỷ mới, bà được Liên Hợp Quốc vinh danh Sứ giả Hoà bình năm 2002, được Nữ hoàng Elizabeth II phong chức Hiệp sĩ Đế quốc Anh, và được Tổng thống Mỹ Joe Biden trao tặng Huân chương Tự do vào tháng 01/2025, chỉ vài tháng trước khi bà qua đời.

Goodall bắt tay Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Lễ mừng Ngày Khối thịnh vượng chung năm 2014 - Ảnh: Leon Neal / WPA Pool
Sau khi bà qua đời hôm 01/10/2025 tại Los Angeles, California, Mỹ, vì tuổi cao, Viện Jane Goodall có đăng thông cáo với đoạn: “Tiến sĩ tập tính học Goodall không chỉ thay đổi cách nhìn của giới khoa học mà còn không ngừng lên tiếng thúc đẩy công tác bảo tồn, phục hồi môi trường tự nhiên. Bà đã dốc hết sức mình vì hành tinh xanh cũng như tất cả các sinh linh trên tinh cầu này. Goodall ra đi để lại di sản khổng lồ cho tự nhiên và cho cả nhân loại.”

Goodall được Tổng thống Mỹ Joe Biden trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng vào tháng 01/2025 - Ảnh: Getty Images
Có thể nói công cuộc điền dã của Jane Goodall không chỉ phá vỡ định kiến về nữ giới trong ngành khoa học mà còn giúp ngành này nhìn nhận lại cách nghiên cứu động vật, xoá nhoà lằn ranh giữa con người và thế giới muôn loài.
Huỳnh Trọng Nhân
(Tổng hợp và Lược dịch)