Trang chủ»Kinh tế

Kinh tế

Hoa Kỳ và quyền lực tài chính thế giới

Trong suốt lịch sử của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB), Hoa Kỳ đã trở thành cổ đông lớn nhất và là thành viên có ảnh hưởng nhất. Hoa Kỳ xem tất cả các tổ chức, trong đó có Ngân hàng Thế giới, như công cụ của chính sách đối ngoại được sử dụng cho mục đích và mục tiêu cụ thể của mình. Từ khi bắt đầu đến nay, chủ tịch Ngân hàng Thế giới luôn là công dân Hoa Kỳ được đề xuất bởi chính phủ Mỹ, và Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có quyền phủ quyết tại Ngân hàng Thế giới với 35,07% quyền biểu quyết. Kể từ lần sửa đổi năm 2013, quyền biểu quyết của Hoa Kỳ còn 15,85%. Khi WB bắt đầu hoạt động vào năm 1947, phần lớn yêu cầu sửa đổi các đạo luật để được thông qua cần tỷ lệ đồng thuận là 80% (được nắm giữ bởi ít nhất 60% các quốc gia thành viên), nhưng thực tế Hoa Kỳ có quyền phủ quyết mặc dù để làm giảm sức nặng phiếu bầu của Hoa Kỳ các quốc gia thành viên của WB ngày càng tăng. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã thận trọng bảo vệ quyền phủ quyết của mình. Năm 1987, Nhật Bản đã tăng đáng kể quyền biểu quyết. Nhật Bản là quốc gia quan trọng thứ hai trước Đức và Anh. Để thừa nhận đồng minh Nhật Bản, Hoa Kỳ đã chấp nhận giảm quyền biểu quyết với điều kiện là đa số yêu cầu được tăng lên 85%. Cách này đã mang lại sự hài lòng cho Nhật Bản trong khi vẫn duy trì quyền phủ quyết của Hoa Kỳ.



Tổng thống Donald Trump đã đề cử David Malpass là giám đốc của Ngân hàng Thế giới

Hoa Kỳ cũng là thành viên chi phối hội đồng quản trị của Ngân hàng Thế giới nhưng chỉ một phần là cổ đông chính. Hầu hết các quyết định của Ngân hàng, bao gồm cả những quyết định ảnh hưởng đến mức cho vay và phân bổ cho vay, đều yêu cầu một cuộc bỏ phiếu đa số hội đồng quản trị. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ có thể trở thành thiểu số. Tuy nhiên, các quyết định thường được đưa ra xem xét giữa lãnh đạo của Hoa Kỳ và Ngân hàng trước khi họ tham gia hội đồng quản trị, hoặc giữa các thành viên của hội đồng trước khi họ bỏ phiếu. Và hầu hết các quyết định của hội đồng quản trị được thực hiện bởi sự đồng thuận. Do đó, Hoa Kỳ có quyền lực rất lớn trong WB. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với Ngân hàng Thế giới trong các trường hợp cụ thể được Hoa Kỳ xem là phạm vi ảnh hưởng của riêng mình. Các chính sách được WB áp dụng về các khoản vay cho các quốc gia trong khu vực luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các lựa chọn chính trị của chính phủ Hoa Kỳ. Trường hợp của Nicaragua và Guatemala là một minh chứng. Từ năm 1951 đến 1956, Nicaragua đã nhận được 9 khoản vay của WB. Năm 1953, một căn cứ quân sự của Mỹ được thành lập ở Nicaragua. Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh, Ngân hàng Thế giới đã tìm hiểu thực tế, có các điều kiện cần thiết để Việt Nam được nhận khoản vay ưu đãi và xác định rằng các hoạt động kinh tế của Việt Nam không thua kém Bangladesh hay Pakistan. Mặc dù vậy, ban lãnh đạo Ngân hàng, chịu áp lực từ Mỹ, đã đình chỉ các khoản vay cho Việt Nam và chủ tịch Robert McNamara, khẳng định trên Newsweek (ngày 20 tháng 8 năm 1979) rằng việc đình chỉ dựa trên báo cáo tiêu cực. Ban quản lý WB biện minh cho việc phân bổ hoặc không phân bổ các khoản vay trên cơ sở kinh tế thuần túy. Nhưng trên thực tế, các chính sách cung cấp các khoản vay trước hết được quyết định bởi sự can thiệp của chính phủ Hoa Kỳ vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, trên cơ sở chủ yếu là các mục tiêu chính trị. Điều này không có nghĩa là các mục tiêu kinh tế không có tầm quan trọng nhưng chúng phụ thuộc hoặc bổ sung cho các lựa chọn chính trị và chiến lược của Washington.



Từ những năm 1970, Hoa Kỳ đã sử dụng một cách có hệ thống ảnh hưởng của mình trong nỗ lực thuyết phục WB không cấp các khoản vay tạo điều kiện cho việc sản xuất hàng hóa sẽ cạnh tranh với các sản phẩm của Hoa Kỳ. Do đó, Mỹ thường xuyên phản đối việc sản xuất dầu cọ, trái cây có múi và đường. Năm 1987, Hoa Kỳ đã yêu cầu Ngân hàng giảm mạnh các khoản vay được cấp cho ngành sản xuất thép ở Ấn Độ và Pakistan. Năm 1985, Hoa Kỳ phản đối dự án đầu tư của Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC - nhóm Ngân hàng Thế giới) trong ngành thép Brazil và sau đó là một khoản vay từ Ngân hàng để hỗ trợ tái cấu trúc ngành sản xuất thép của Mexico. Hoa Kỳ đe dọa sẽ sử dụng quyền phủ quyết của mình để chặn khoản vay cho ngành thép Trung Quốc vào những năm 80. Mỹ cũng chặn một khoản vay từ IFC cho một công ty khai thác quặng sắt ở Brazil. IFC đã có hành động tương tự liên quan đến khoản đầu tư của IFC vào ngành công nghiệp đồng Chile. Ngoài ra, Mỹ tác động đến WB trong chính sách của mình đối với lĩnh vực dầu mỏ. Hoa Kỳ ủng hộ các khoản vay cho khoan dầu nhưng không lọc dầu. Trong một số trường hợp, lợi ích của Hoa Kỳ được WB thông qua, sau đó là kết quả của các cuộc tham vấn chặt chẽ giữa Hoa Kỳ với các cường quốc có liên quan và WB. 

Sự nổi trội của Hoa Kỳ trong các tổ chức tài chính đa phương. Hoa Kỳ là công cụ trong việc định hình cấu trúc và sứ mệnh của WB cùng với phương Tây, theo định hướng thị trường, chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của một tổ chức doanh nghiệp với quyền biểu quyết, được điều hành bởi một ban giám đốc là người Mỹ và đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Là thành viên điều lệ và cổ phần  lớn của WB, Hoa Kỳ bảo đảm quyền duy nhất một vị trí thường trực trong Hội đồng quản trị của Ngân hàng. Những tác nhân quan trọng khác - quản lý, nhà tài trợ chính và người nhận chính đã công nhận Hoa Kỳ là thành viên quan trọng nhất trong WB. Các chính sách và chương trình của Nhóm Ngân hàng Thế giới phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ trong việc phân bổ quốc gia và các chính sách nhạy cảm. Đặc tính của WB là cơ cấu doanh nghiệp, sức mạnh của đội ngũ quản lý và cơ cấu bỏ phiếu của Ngân hàng đã đảm bảo sự thống nhất rộng rãi giữa các chính sách thực tiễn các mục tiêu kinh tế và chính trị lâu dài của Hoa Kỳ. Thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở Thế giới thứ ba, thúc đẩy các chính sách kinh tế theo định hướng thị trường về sự công bằng và năng lực, khuyến khích các nước đang phát triển tham gia đầy đủ hơn vào hệ thống quốc tế dựa trên tự do hóa thương mại và dòng vốn... Điều này có nghĩa là mở rộng cơ hội cho xuất khẩu, đầu tư và tài chính của Hoa Kỳ. Việc tăng vốn của WB năm 1988 của Tổng thống Ronald Reagan, trong đó danh sách các quốc gia có thu nhập trung bình là những đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ (như Philippines, Ai Cập, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Morocco, Tunisia, Argentina, Indonesia và Brazil), có tầm quan trọng về mặt chiến lược và kinh tế đối với Hoa Kỳ. 



Lệnh trừng phạt của Mỹ đã ảnh hưởng đến kinh tế Iran

Trong khoảng thời gian từ năm 1947 đến năm 1992, các hoạt động của Ngân hàng đã mang lại cho Hoa Kỳ thu nhập cho công dân của mình sở hữu trái phiếu do Ngân hàng phát hành (khoản 20,2 tỷ USD), các chi phí hoạt động của WB trên lãnh thổ Hoa Kỳ (khoảng 11 tỷ USD), và phải tính đến hiệu quả đòn bẩy của đầu tư của Mỹ vào Ngân hàng Thế giới và Hiệp hội Phát triển Quốc Tế (IDA). Kể từ khi thành lập, Hoa Kỳ chỉ bỏ ra một khoản chi tối thiểu là 1,85 tỷ USD trong khi WB cấp các khoản vay với tổng số tiền là 218,21 tỷ USD. Những khoản vay này đã tạo ra các đơn đặt hàng lớn cho các công ty Mỹ. Trong trường hợp của IDA, Hoa Kỳ đã thực hiện một khoản chi lớn hơn so với Ngân hàng Thế giới: 18 tỷ USD để tài trợ cho các khoản vay IDA so với số tiền 71 tỷ USD.

Hệ thống Bretton Woods được thành lập sau Thế chiến II, Hoa Kỳ và các đồng minh Châu Âu đã đồng ý phân chia quyền lãnh đạo, người Châu Âu sẽ điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và người Mỹ sẽ điều hành Ngân hàng thế giới, và tất cả 11 giám đốc điều hành IMF cho đến nay đều là người Châu Âu, 12 chủ tịch của WB đều là người Mỹ. Sự lãnh đạo của Mỹ đối với WB có ý nghĩa trong những năm đầu tiên, là một công cụ cung cấp tín dụng cho các nỗ lực tái thiết ở Tây Âu. Khoản vay đầu tiên của WB là với Pháp, một khoản vay nỗ lực tái thiết của Pháp nổi lên khi đang chờ đợi các quỹ của Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) từ Mỹ. Mỹ đã mua nhiều cổ phần nhất trong Ngân hàng Thế giới và cung cấp nhiều vốn hơn các thành viên khác. Vì vậy, sự thống trị của Mỹ là đương nhiên. Ngân hàng Thế giới cũng là một ngân hàng, ngân hàng là doanh nghiệp và doanh nghiệp được điều hành bởi các cổ đông. WB đã phát triển tương đối nhanh chóng. 

Theo IMF, USD vẫn chiếm khoảng 62% tổng dự trữ, EURO ở mức 20% và đồng Nhân dân tệ chiếm chưa đến 2%. Vì vậy, thông qua hệ thống Bretton Woods (World Bank, IMF, Bank for International Settlements), Hoa Kỳ có thể áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với bất kỳ quốc gia nào được cho là không chơi theo luật. Nếu các lệnh trừng phạt không đủ thì Mỹ có thể dùng đến chiến tranh. Libya và Iraq là ví dụ điển hình cho việc quyết định định giá dầu bằng các loại tiền thay thế và nhanh chóng bị loại khỏi quyền lực. Sau khi các quốc gia bị tiêu diệt, các ngân hàng IMF/WB cấp các khoản vay hào phóng cho chính phủ mới và các tập đoàn chọn lọc của Hoa Kỳ được trao độc quyền cho các hợp đồng này. Đối với Washington, USD là đòn bẩy, vũ khí tài chính để thống trị nền kinh tế thế giới, áp đặt các chương trình nghị sự chính sách đối ngoại và bảo đảm một nguồn tài chính ổn định đối với các quốc gia có chủ quyền sử dụng tiền tệ. Trong nhiều thập kỷ, kinh tế của Mỹ có thể hợp pháp hóa các yêu sách của đồng USD để chiếm ưu thế. Hoa Kỳ chiếm 23% GDP toàn cầu và 12% thương mại hàng hóa. Hiện nay, thị phần của các công ty Mỹ trong cổ phiếu đầu tư của công ty quốc tế đã giảm từ 39% năm 1999 xuống còn 24%. Nhưng Phố Wall thiết lập và điều hành tài chính của thị trường toàn cầu rất xuất sắc. Các nhà quản lý quỹ của Mỹ điều hành 55% tài sản của thế giới vào năm 2018 (tăng từ 44% trong năm 2008).

Trần Nguyễn
(Tổng hợp)

SIU Review - số 81

Thông tin cần biết

icon Giá vàng
icon Tỷ giá ngoại tệ
icon Chứng khoán